Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Báo cáo – Thống kê

Xem với cỡ chữAA

Vĩnh Bình Nam (huyện Vĩnh Thuận, Kiên Giang): Vì sao Phó Chủ tịch cho thuê mặt bằng kinh doanh của xã lại bị kiện ra tòa?

(08:19 | 09/01/2019)

Tham gia vào việc mua bán, cho thuê mặt bằng kinh doanh (ki ốt) của người đang phải có nghĩa vụ thi hành án, ông Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Bình Nam bị chủ nợ kiện ra tòa đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do không mua được mặt bằng này, vụ việc đang còn nhiều tranh cãi.

            Tẩu tán tài sản, hành vi khá phổ biến

            Trước đây, chị Trần Thị Bé Hiền và chị Trần Thị Thương cùng (ấp Bời Lời A, xã Vĩnh Bình Nam) có tham gia chơi nhiều dây hụi của bà Huỳnh Thị Ngọc Ánh (ấp Hòa Thành, xã Vĩnh Bình Nam). Sau khi hốt hụi (ngày 20/3/2016), chị Hiền và chị Thương còn nợ lại một số tiền khá lớn là tiền hụi và tiền vay của bà Ánh và chị Mai Thị Thủy (ấp Bời Lời A, xã Vĩnh Bình Nam).  

            Thương thảo, hòa giải ở cơ sở không thành, bà Ánh và chị Thủy kiện chị Hiền và chị Thương ra tòa. Tại tòa, các bên thỏa thuận được với nhau giải quyết toàn bộ vụ án nên ngày 28/12/2016, TAND huyện Vĩnh Thuận ra Quyết định (QĐ) công nhận thỏa thuận của các đương sự: chị Hiền và chị Thương có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Thủy số tiền 535.700.000 đồng, trả cho bà Ánh 310.000.000 đồng, tiền lãi chậm thi hành án được tính theo quy định của pháp luật. Ngày 08/02/2017, Chi cục Thi hành án huyện ra QĐ thi hành án theo yêu cầu của bà Ánh và chị Thủy. Quá trình thi hành án, dưới sự chứng kiến của Chấp hành viên, chị Hiền và chị Thương cam kết nhượng lại cho bà Ánh và chị Thủy 03 lô ki ốt bán hàng ở chợ nhà lồng của xã Vĩnh Bình Nam để trừ nợ, số còn lại sẽ trả dần hàng tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

            Để đảm bảo thi hành án, ngày 02/3/2017 Chi cục Thi hành án ban hành Công văn số 33/CV-THA gửi UBND xã Vĩnh Bình Nam và lãnh đạo ấp Bời Lời A ngăn chặn "không cho bà Trần Thị Bé Hiền, bà Trần Thị Thương chuyển quyền, cầm cố, thế chấp, tặng cho...bất cứ tài sản nào khi chưa thi hành án xong hoặc chưa có ý kiến bằng văn bản của cơ quan thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận". Sau đó, ngày 14/3/2017 Thi hành án ra QĐ cưỡng chế kê biên, xử lý đối với 03 ki ốt, đến ngày 08/5/2017 thì thu hồi QĐ này với lý do “tài sản của xã Vĩnh Bình Nam, không phải của chị Hiền, chị Thương” nhưng không báo cho bên bà Ánh và chị Thủy biết.

            Xem lại hợp đồng thuê 03 ki ốt trước đây, ông Võ Văn Dũng là Chủ tịch UBND xã ký hợp đồng ngày 15/10/2013 cho chị Hiền thuê với giá 180.000.000 đồng trong thời hạn 15 năm. Nuốt lời hứa với bà Ánh và chị Thủy, chị Hiền tìm được đối tác là ông Chế Văn Sĩ (xã Bình Minh, huyện Vĩnh Thuận), hai bên đến UBND xã Vĩnh Bình Nam để nhượng lại 03 ki ốt này với giá 130.000.000 đồng. Sau đó vào ngày 17/11/2017, ông Trần Văn Le là Phó Chủ tịch đại diện UBND xã ký hợp đồng cho ông Sĩ thuê 03 ki ốt trong thời hạn 15 năm, giá 130.000.000 đồng.

            Bị mất quyền thuê ki ốt, các chủ nợ khởi kiện ra tòa đối với cá nhân ông Le để đòi “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” bằng với số tiền mà chị Hiền đã chuyển nhượng cho ông Sĩ là 130.000.000 đồng, trong đó cho chị Thủy 78.000.000 đồng và bà Ánh là 52.000.000 đồng, vì cho rằng ông Le “có lỗi” trong vụ mua bán này.

       

           Ảnh: Ba ki ốt tại xã Vĩnh Bình Nam, huyện Vĩnh Thuận

            Có nhiều quan điểm khác nhau về quyền cho thuê ki ốt

            Việc xã cho ông Sĩ không phải là chủ nợ thuê ki ốt có nhiều quan điểm cho rằng, xã hoàn toàn có quyền cho bất kỳ người nào thuê tài sản của mình, vì QĐ cưỡng chế, kê biên đối với 03 ki ốt này của Thi hành án đã đã bị hủy bỏ. Nhưng ngược lại, cũng có không ít quan điểm bênh vực chủ nợ nói xã chỉ có quyền cho bà Ánh và chị Thủy thuê để trừ vào nghĩa vụ thi hành án, hoặc trước khi xã cho người khác thuê phải thông báo cho thi hành án và chủ nợ biết.

           Xung quang việc cho thuê 03 ki ốt, Ths Bùi Đức Độ - Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang chi sẻ: Nếu trong trường hợp bình thường, chị Hiền và chị Thương không phải có nghĩa vụ thi hành án thì chị Hiền có quyền bán 03 ki ốt (quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 và Điều 450 BLDS); UBND xã Vĩnh Bình Nam cũng có quyền cho ông Sĩ thuê vì xác định đây là tài sản của họ. Tuy nhiên, vì chị Hiền và chị Thương đang phải có nghĩa vụ thi hành án nên việc mua bán này cần xem xét một cách thấu đáo theo quy định của pháp luật.

          Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTHNHĐ) thì trách nhiệm BTTHNHĐ chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

          Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra: trong vụ việc này, chị Thủy và bà Ánh thiệt hại là có căn cứ do chị Hiền đã bán cho ông Sĩ với giá 130.000.000 đồng, “bẻ kèo” với chị Thủy và bà Ánh để tránh né nghĩa vụ phải thi hành án.

         Thứ hai, phải có hành vi trái pháp luật: căn cứ vào Điều 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì Chủ tịch UBND xã Vĩnh Bình Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án…trên địa bàn. Công văn số 33/CV-THA của cơ quan thi hành án vẫn đang còn hiện hữu, chưa bị hủy bỏ, ông Le là người biết. Vậy nên, ông Le rất có thể đã có hành vi trái pháp luật về công tác phối hợp thi hành án. 

          Thứ ba, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại: mặc dù biết chị Hiền đang phải có nghĩa vụ liên đới với chị Thương phải thi hành án cho chị Thủy và bà Ánh một số tiền rất lớn, biết chị Hiền bán 03 ki ốt cho ông Sĩ trong hoàn cảnh không bình thường, biết nhiệm vụ của mình trong công tác phối hợp thi hành án trên địa bàn, biết Công văn số 33/CV-THA, biết..., nhưng không thông báo cho chị Thủy, bà Ánh và cơ quan thi hành án huyện để phối hợp giải quyết là lỗi của ông Le.

           Thứ tư, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật: thiệt hại xảy ra đối với chị Thủy và bà Ánh do không mua được 03 ki ốt (130.000.000 đồng) để trừ vào số tiền thi hành án là kết quả tất yếu hành vi của ông Le và ngược lại hành vi của ông Le là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

          Từ những phân tích nêu trên, rất có thể ông Le đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với chị Thủy và bà Ánh.

Thu Uyên