Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Chuyển nhượng QSDĐ, Giấy chứng nhận có bắt buộc phải ghi tên vợ và chồng?

(07:19 | 04/05/2022)

       Vợ chồng phải có thỏa thuận, ủy quyền cho nhau khi mua, bán nhà đất, đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ)chỉ do một người thực hiện.

 

       Trước khi đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, vợ chồng anh An và chị Hiền đã có một căn nhà ở Việt Nam. Nay vợ chồng anh An muốn bán nhà cũ, mua căn nhà mới thì phải thực hiện như thế nào trong khi anh An không thể về nước để thực hiện những giao dịch này?

       Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng” (Điều 24). Đối với “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” (Điều 33).

         Việc ghi tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ, khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013 có quy định: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Ảnh minh họa: nguồn internet

         Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu”.

          Về sở hữu chung của vợ chồng, khoản 3 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận: “Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.”

         Như vậy, trường hợp của vợ chồng anh An, khi thực hiện giao dịch mua, bán nhà đất theo nguyên tắc phải được cả vợ và chồng ký tên. Trên Giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà ở khi nhận chuyển nhượng đều phải có tên của cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, do anh An hiện đang ở nước ngoài không thể về nước để thực hiện thủ tục mua bán nhà đất nên anh An có thể làm Hợp đồng ủy quyền cho vợ thực hiện việc chuyển nhượng nhà cũ và đứng tên một mình trên Giấy chứng nhận nhà mới.

         Nhà đất mới mua đứng tên một người vẫn là tài sản chung của vợ chồng anh An, nếu sau này vợ chồng muốn thay đổi thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi sổ đỏ ghi tên của cả vợ và chồng (khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP).

        Việc ủy quyền của anh An cho vợ mua, bán nhà đất, đứng tên một người trên Giấy chứng nhận do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài công chứng theo khoản 1 Điều 78 Luật Công chứng năm 2014. Sau khi nhận được Hợp đồng ủy quyền của anh An gửi về, vợ anh ấy sẽ mang hợp đồng ủy quyền này đến tổ chức hành nghề công chứng nơi mình cư trú để công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.

         Khi đến yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền, vợ chồng anh An phải chuẩn bị bản sao và xuất trình bản chính các giấy tờ tùy thân, Giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.

Luật gia Bùi Đức Độ