Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Chủ hụi bỏ địa phương đi đâu không rõ, Tòa án có nhận đơn giải quyết vụ kiện?

(16:21 | 26/04/2022)

          Địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện là chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú.

 

         Chị Nguyễn Thủy Song hỏi: Chúng tôi tham gia chơi hụi do bà T sống lâu năm nơi đây làm chủ, mọi người đều đóng đầy đủ nên ngày càng có nhiều thành viên tham gia. Vừa qua, vợ chồng bà T tuyên bố mất khả năng chi trả, vài ngày sau thì bỏ địa phương đi đâu không rõ nên chúng tôi gửi đơn đến cơ quan Công an để tố cáo hành vi lừa đảo của vợ chồng bà T. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra trả lời không khởi tố hình sự và hướng dẫn chúng tôi liên hệ với tòa để giải quyết. Vậy, địa chỉ của bị đơn trong đơn khởi kiện là nơi đã từng cư trú của vợ chồng bà T, hay là nơi họ đang trốn? Trường hợp không tìm được địa chỉ của họ đang trốn thì tòa có nhận đơn của chúng tôi để giải quyết vụ việc?

Ảnh minh họa: nguồn internet

          Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”.

          Hướng dẫn thi hành điều khoản này, tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì “Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định như sau: Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú”.

          Khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP còn quy định: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”.

           Khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung”.

           Căn cứ các quy định trên, địa chỉ của bị đơn trong đơn khởi kiện là nơi đã từng cư trú của vợ chồng bà T, còn nơi họ đang trốn không phải là địa chỉ cư trú nên không ghi vào địa chỉ trong đơn kiện. Nếu đơn khởi kiện đã ghi đúng, đầy dủ  địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải thụ lý vụ án.

Luật gia Bùi Đức Độ