Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Mua đất bằng di sản thừa kế, làm gì để là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân?

(10:21 | 10/11/2021)

            Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)đã quy định vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản, tài sản chung hay tài sản riêng, nhưng việc chứng minh giữa chung và riêng lại không hề dễ.

        Vợ chồng anh Phụng và chị Kiều kết hôn đến nay đã hơn 20 năm, nhưng gần đây sống ly thân. Vừa qua, gia đình anh Phụng bán di sản thừa kế do cha mẹ để lại, mỗi người được chia 520 triệu đồng. Anh Phụng dự định sẽ mua một nền đất thổ cư, nhưng không biết phải làm như thế nào để mảnh đất là của riêng mình, trong khi vợ của anh lại không chịu hợp tác?

        Luật HN&GĐ năm 2014 trao quyền cho vợ chồng được lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 28). Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận rất ít khi được thực hiện, nhất là trong tình trạng vợ chồng xảy ra bất hòa hay có nguy cơ đổ vỡ như trường hợp của vợ chồng anh Phụng.

        Chế độ tài sản theo luật định được Luật HN&GĐ năm 2014 quy định từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 bao gồm về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, đăng ký, định đoạt…

        Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất (QSDĐ) mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng (Điều 33).

        Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng; tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 43).

         Chế độ tài sản riêng của vợ, chồng còn được hình thành bởi nhiều nguồn khác như: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng (Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).

         Như vậy, khoản tiền 520 triệu đồng là tài sản thừa kế riêng của anh Phụng trong thời kỳ hôn nhân. Việc anh Phụng cần làm là phải có minh chứng như văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, chứng từ…về nguồn gốc khoản tiền thừa kế, đồng thời không có thỏa thuận với vợ về khoản tiền này là tài sản chung thì sẽ được coi là tài sản riêng khi có tranh chấp, khi ly hôn hoặc khi cần xác định tài sản riêng.

         Khi anh Phụng nhận chuyển nhượng QSDĐ, anh cần yêu cầu người chuyển nhượng viết rõ trong giấy biên nhận thanh toán từ nguồn thừa kế, kèm theo là minh chứng về tiền thừa kế này trong hồ sơ chuyển nhượng, để làm căn cứ trong quá trình công nhận là tài sản riêng.

        Với tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn là QSDĐ, Luật HN&GĐ   (Điều 34) cũng như Luật Đất đai (Điều 98) đều quy định Giấy chứng nhận phải ghi tên cả vợ và chồng, ngoại trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận ghi tên một người. Tuy nhiên, QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn thông qua giao dịch bằng tài sản riêng là tài sản riêng, và khi đó trên Giấy chứng nhận sẽ ghi tên một mình anh Phụng mà thôi.

Ths Bùi Đức Độ