Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Luật sư của bạn: Chung sống như vợ chồng “tay ba”, giải quyết như thế nào?

(15:12 | 25/10/2019)

Không chấp nhận cảnh một chồng hai vợ, chị K dự định yêu cầu Tòa án xử lý quan hệ của chồng mình với tình địch, đồng thời đề nghị công nhận hôn nhân của mình là hợp pháp.

         Năm 2009, anh L.H (21 tuổi) kết hôn với chị M.K (hơn 16 tuổi) sinh được 2 người con, một trai, một gái. 7 năm sau, anh H dối vợ mình là đi làm ăn xa nhưng thực chất lại chung sống như vợ chồng với chị T, hai người có con chung đến nay được 3 tuổi. Biết chuyện, chị K bắt ghen, khuyên can anh và nhờ chính quyền địa phương giải quyết. Sự việc chưa đi đến đâu, anh H không những không chấm dứt quan hệ với chị T mà còn đưa ra lời lẽ thách thức, anh tuyên bố “cô với tôi không có hôn thú, đường ai người đó đi; sau này tôi sẽ đăng ký kết hôn (ĐKKH) đàng hoàng với T cho cô xem…”. Tuy tức giận, nhưng chị K vẫn còn hy vọng níu kéo anh H quay về. Chị dự định yêu cầu Tòa án xử lý quan hệ của anh H và chị T, đồng thời công nhận hôn nhân giữa mình và anh H là hợp pháp?

          Ths Bùi Đức Độ, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang giải đáp: Cho dù anh H và chị K được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức cưới hỏi nhưng tại thời điểm năm 2009 chị K chưa đủ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2000 nên thuộc trường hợp “chung sống như vợ chồng”, pháp luật không công nhận anh H và chị K là vợ chồng.

          “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Thời điểm anh H và chị K chung sống như vợ chồng (năm 2009), chị K chưa đủ tuổi kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 (còn gọi là tảo hôn) nên thuộc trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật. Thời điểm anh H và chị T chung sống như vợ chồng (năm 2016), nếu anh H và chị T đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm được quy định tại Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật về hôn nhân, nhưng cũng chưa được thừa nhận.

                     

          ( Ảnh minh họa: nguồn internet)

           “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng” (Khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014) và Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ quy định “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình”. Như vậy, căn cứ này cho thấy pháp luật không phân biệt giữa việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không trái pháp luật và việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trái pháp luật.

          Vào thời điểm hiện tại (2019), anh H và chị K, anh H và chị T đều thuộc trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không ĐKKH nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014. Về lý mà nói, anh H và chị K, anh H và chị T đều thuộc trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật nhưng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên họ có thể tự chấm dứt việc chung sống như vợ chồng hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố họ không phải là vợ chồng nếu họ có tranh chấp về tài sản chung và con chung.

          Anh H và chị K tại thời điểm kết hôn, hai bên không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn, nay chị K đề nghị công nhận quan hệ hôn nhân với anh H, ngược lại anh H yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật HN&GĐ; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật HN&GĐ.

        Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã ĐKKH tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn (Khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014). Anh H, chị K và chị T đều không thuộc trường hợp người đang có vợ, có chồng. Vậy nên yêu cầu của chị K sẽ không được xem xét, nhưng để được công nhận là vợ chồng thì hai bên là anh A với chị T hoặc anh A với chị K phải ĐKKH và quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm ĐKKH.

Thu Uyên