Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Biên bản họp gia đình có phải là di chúc thừa kế?

(07:37 | 25/09/2019)

             Lâu nay, có một thực tế khá phổ biến là cha mẹ khi phân chia tài sản cho con thường họp mặt gia đình (gia tộc), có sự chứng nhận của người làm chứng hay chính quyền địa phương. Vậy, biên bản họp mặt gia đình có hay không có giá trị pháp lý về  thừa kế, tặng cho tài sản?

        Vợ chồng ông K.V.T và bà N.T.D có 5 người con. Quá trình tạo lập, hơn 40 năm ông bà có được một căn nhà gần 100m2 và nhiều mảnh đất có giá trị. Năm 2010 ông T chết, các con đề nghị mẹ họp mặt gia đình để phân chia tài sản. Thấy hợp lý, năm 2012 bà D tổ chức họp nội bộ gia đình cùng đông đủ các con, cuối cùng đi đến thống nhất: Gần 1200m2 đất mặt tiền, sau khi chừa đường đi chung rộng 3m được chia hết làm 4 phần bằng nhau cho 4 người con, còn lại tất cả các tài sản khác (đất đai, nhà ở và vật dụng sinh hoạt) mẹ toàn quyền đứng tên và định đoạt, các con không có quyền yêu cầu. Năm 2018, bà D lại họp mặt gia đình để chia tài sản cho các con, nhưng biên bản chỉ có hiệu lực sau khi bà D qua đời. Cả 2 Biên bản họp gia đình được các thành viên thống nhất ký tên, Trưởng khu phố xác nhận, UBND phường chứng thực nội dung và chữ ký của đương sự là thật.

        Chưa thật sự yên tâm, bà D hỏi Biên bản họp gia đình có giá trị pháp lý như thế nào? Có được công nhận là di chúc, văn bản phân chia di sản thừa kế, tặng cho tài sản…theo quy định của pháp luật?

 ( Ảnh minh họa - nguồn Internet)

         Ths Bùi Đức Độ - Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang có quan điểm: Biên bản họp mặt gia đình là một loại văn bản, thể hiện ý chí của một hay nhiều cá nhân, có khi được công nhận là một giao dịch dân sự (tặng cho, thỏa thuận phân chia di sản…), có khi được công nhận là di chúc. Cụ thể, trường hợp của bà D, hiểu theo quy định của pháp luật như sau:

         Trường hợp thứ nhất, biên bản họp gia đình có nội dung phân chia di sản thừa kế: khi ông T chết tài sản của ông trở thành di sản thừa kế, và thừa kế được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất (vợ và các con) do ông T không để lại di chúc. Việc họp mặt gia đình gồm những người thừa kế để thỏa thuận người quản lý di sản, người phân chia di sản, cách thức phân chia di sản và Biên bản đã đáp ứng về mặt hình thức là bằng văn bản, có sự chứng nhận của chính quyền địa phương; về nội dung hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép, cũng không trái với quy định pháp luật được quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự năm 2015 về họp mặt những người thừa kế (mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản) và điều kiện văn bản thỏa thuận phân chia di sản được chứng thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ Về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

         Trường hợp thứ hai, biên bản họp gia đình có nội dung tặng cho được thể hiện bằng nhiều ngôn từ khác nhau như: cho, để lại, nhượng, nhường lại, thống nhất…thì có thể được coi là ý chí của cá nhân nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác khi họ còn sống hay sau khi chết. Đây là một loại văn bản, các bên cho và nhận thỏa thuận ký tên, nếu có chứng thực của UBND xã thì đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một giao dịch dân sự có hiệu lực: “tự nguyện”, “thể hiện bằng văn bản” (Điều 117, 119, 502 BLDS) và “được công chứng hoặc chứng thực” (Điều 167 Luật Đất đai năm 2013).

         Trường hợp thứ ba, biên bản họp gia đình có nội dung di chúc thường được thể hiện bằng ngôn từ cho, để lại tài sản... Tuy tiêu đề không phải là di chúc, nhưng nội dung lại thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết, nếu đảm bảo được nội dung của di chúc (Điều 631 BLDS), không trái pháp luật và đạo đức xã hội (Điều 630 BLDS) thì có thể được công nhận là di chúc hợp pháp. Biên bản họp gia đình, ngoài người sở hữu tài sản (cha, mẹ) còn có những người khác tham gia (các con…), nếu đáp ứng được các điều kiện của một “di chúc bằng văn bản không có người làm chứng”, “di chúc bằng văn bản có công chứng”, “di chúc bằng văn bản có chứng thực” thì cho dù người thuộc diện thừa kế có ký vào biên bản cũng không ảnh hưởng gì.

          Từ những phân tích nêu trên, Biên bản họp mặt của gia đình bà D nhiều khả năng được công nhận là một giao dịch dân sự (tặng cho, thỏa thuận phân chia di sản…) và được công nhận là di chúc, nhưng có khi lại chỉ được xem như văn bản họp mặt người thừa kế theo Điều 656 BLDS để thông báo mở thừa kế và thỏa thuận cách thức phân chia di sản (tùy thuộc vào nội dung, sự nhận biết của cơ quan công quyền và người thực thi công vụ…).

          Quy định của pháp luật trong lĩnh vực này đã đầy đủ, rõ ràng nên lời khuyên cho mỗi gia đình và cá nhân sau khi những người thừa kế thỏa thuận được với nhau thì làm “biên bản họp gia đình”, sau đó làm cơ sở để lập “văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế” có công chứng hoặc chứng thực; cá nhân lập di chúc riêng, các bên lập hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật dân sự và đất đai nhằm tránh rủi ro, rắc rối sau này.

Uyên Thu