Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Câu chuyện pháp lý

Xem với cỡ chữAA

Luật sư của bạn: Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, đương sự phải chịu án phí như thế nào?

(13:44 | 11/07/2019)

Trong vụ án hôn nhân và gia đình, các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

        Vợ chồng anh L.T.T và chị M.T.C kết hôn đến nay đã được hơn 14 năm, con lớn 13 tuổi, nhỏ 10 tuổi. Quá trình tạo dựng, anh chị có được một căn nhà cấp 3 và 125m2 đất ở, một thửa đất 2000m2. Thời gian gần đây, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn nên phải nhờ đến khu phố hòa giải, nhưng không đem lại kết quả. Sau một thời gian suy nghĩ, anh chị không tìm được tiếng nói chung nên làm thủ tục ly hôn. Nay chị C muốn tìm hiểu, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia như thế nào và mức án phí phải chịu là bao nhiêu trong khối tài sản chung của vợ chồng khoảng 10 tỷ đồng?  

        Nguyên tắc tài sản chung sẽ được chia đôi       

        Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc không có thỏa thuận thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

        Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

        Như vậy, về nguyên tắc tài sản chung sẽ được chia đôi cho vợ, chồng, nhưng có xem xét đến các yếu tố khác và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên nên có thể vợ, chồng có mức hưởng khác nhau, nhận tài sản bằng hiện vật hay bằng giá trị tùy thuộc vào hoàn cảnh, công sức đóng góp của mỗi bên… và con ở với ai.

        Áp dụng án phí giá ngạch cho phần tài sản được chia

        Đối với vụ án hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, mức thu là 300.000 đồng trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí là 150.000 đồng .  

        Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia. Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch tài sản giá trị từ trên 4 tỷ đồng thì mức thu là 112 triệu đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4 tỷ đồng. Như vậy, giả sử anh, chị mỗi người được chia giá trị tài sản là 5 tỷ đồng thì anh, chị mỗi người phại chịu mức án phí là 112 triệu + 0,1% của 1 tỷ (phần giá trị tài sản vượt 4 tỷ) = 113 triệu đồng.

        Trường hợp đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải thì đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung. Trường hợp Tòa án đã tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải đương sự không thỏa thuận việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nhưng đến trước khi mở phiên tòa các bên đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòa và phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia. Theo đó, anh, chị mỗi người phải chịu 50% của 113 triệu = 56.500.000 đồng.

        Trường hợp các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng, Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất thỏa thuận được về việc phân chia một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung, còn một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung không thỏa thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng (Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).

Bùi Đức Độ