Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

(09:32 | 20/07/2022)

          Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể mất quyền khởi kiện.

 

        Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.

Ảnh minh họa: nguồn internet

       Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ (khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015).

        Ví dụ: Ngày 01/01/2019, A và B ký hợp đồng mua bán hàng hóa. Ngày 10/04/2019, hai bên phát sinh tranh chấp. Ngày 10/6/2022, A mới khởi kiện ra Tòa án yêu cầu B thực hiện hợp đồng và bồi thường. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ngày 01/7/2022, B yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Vụ án bị đình chỉ là do: Hết thời hiệu khởi kiện (quyền, lợi ích của A bị xâm phạm ngày 10/04/2019. Ngày 10/6/2022, A mới khởi kiện là đã hơn 03 năm) và B có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện.     

         Không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp sau đây: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; Trường hợp khác do luật quy định (Điều 155 BLDS năm 2015).

          Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây: Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp: Người đại diện chết hoặc người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được (Điều 156 BLDS năm 2015).

         Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự khi: Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Các bên đã tự hòa giải với nhau. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong các sự kiện này (Điều 157 BLDS năm 2015).

          Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp dân sự: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là 02 năm. Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc vô hiệu do giả tạo thì không bị hạn chế thời hiệu; Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm; Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm; Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với các tranh chấp dân sự mà có quy định riêng thì thời hiệu khởi kiện áp dụng theo luật chuyên ngành.

Trần Khánh