Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Người bị tai nạn lao động có lỗi vẫn được trợ cấp

(13:29 | 23/05/2022)

          Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động có hiệu lực từ ngày 01/3/2022. Thông tư này có một số quy định mới, trong đó đáng chú ý nhất là việc trợ cấp cho người lao động trong trường hợp bị tai nạn lao động (TNLĐ) hoàn toàn do lỗi của họ.

 

       Theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động thì “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.

Ảnh minh họa: nguồn internet

       Khi xảy ra TNLĐ, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động; thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị TNLĐ; trả đủ tiền lương cho người lao động bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động; trả đủ tiền lương cho người lao động bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động; trợ cấp cho người lao động bị TNLĐ mà do lỗi của chính họ gây ra…(Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động). 

       Điều kiện để người lao động khi bị TNLĐ được hưởng chế độ TNLĐ là phải tham gia bảo hiểm TNLĐ và có đủ các yêu cầu sau đây: (1) Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: tại nơi làm việc và trong giờ làm việc,…; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động…; trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. (2) Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị TNLĐ thuộc trường hợp nêu trên.

       Người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động bị TNLĐ mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau: nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 5% - 10%nhưởng 0,6 tháng lương; nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% - 80% hưởng từ 0,76 - 11,80 tháng lương; nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% đến bị chết hưởng 12 tháng lương.

        TNLĐ xảy ra lần nào thực hiện bồi thường hoặc trợ cấp lần đó, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó. Mức bồi thường tính theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

        Các tài liệu kèm theo hồ sơ trợ cấp gồm: Biên bản điều tra TNLĐ; Biên bản giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động hoặc biên bản xác định người lao động bị chết của cơ quan pháp y hoặc tuyên bố chết của tòa án; Quyết định bồi thường, trợ cấp TNLĐ của người sử dụng lao động; Văn bản xác nhận bị tai nạn trên đường đi và về (nếu có).

        Hồ sơ được lập thành 3 bộ: Người sử dụng lao động giữ một bộ; Người lao động bị TNLĐ (hoặc thân nhân của người lao động bị chết) giữ một bộ; Một bộ gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương nơi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có trụ sở chính.

        Thời hạn thực hiện trợ cấp: Quyết định trợ cấp phải được hoàn tất trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Tiền trợ cấp phải được thanh toán một lần cho người lao động hoặc thân nhân của họ, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày người sử dụng lao động ra quyết định trợ cấp.

        Khác với TNLĐ, nếu là tai nạn thì người lao động không được hưởng chế độ TNLĐ khi thuộc các trường hợp sau: Tai nạn do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; tai nạn do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; tai nạn do sử dụng rượu, bia hoặc chất ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Trần Khánh