Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý, đạo đức của người thực hiện trợ giúp pháp lý được đặt lên hàng đầu

(07:48 | 12/08/2020)

       Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một nghề đặc thù, cung cấp dịch vụ pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách,…nhưng không thu tiền.  Vì vậy, ngoài việc tuân thủ pháp luật, người thực hiện TGPL còn phải đề cao trách nhiệm, đạo đức, uy tín nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, gương mẫu trong hoạt động TGPL.

      Tuân thủ Quy tắc nghề nghiệp là những người thực hiện TGPL, bao gồm: trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước; luật sư thực hiện TGPL theo phân công của tổ chức tham gia TGPL; tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia TGPL và cộng tác viên TGPL.

    Trước đây, Quy tắc nghề nghiệp TGPL được Bộ Tư pháp quy định tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP ngày 08/12/2008, nhưng nay đã có Thông tư  số 03/2020/TT-BTP ngày 28/4/2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020 thay thế.

       Quy tắc được xây dựng chủ yếu dựa trên quy định về quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL, về những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL theo Luật TGPL năm 2017 và có kế thừa Quy tắc nghề nghiệp TGPL được ban hành theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP. Quy tắc mới được thiết kế gọn (từ 18 điều, giảm còn 8 điều), nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, thống nhất.

Ảnh minh họa: Hội nghị tập huấn về trợ giúp pháp lý tại Cần Thơ.

       Trong 8 điều quy tắc nghề nghiệp TGPL, do tính chất đặc thù của công việc nên vấn đề đạo đức của người thực hiện TGPL được đặt lên hàng đầu. Trước hết, người thực hiện TGPL phải trung thực, liêm chính, tôn trọng sự thật khách quan, giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, không lợi dụng hoạt động TGPL để trục lợi cho mình hoặc cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác (Điều 1).

       Người thực hiện TGPL phải độc lập, không bị ảnh hưởng bởi lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hay tác động, đe dọa, cản trở, sách nhiễu, can thiệp trái pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong quá trình thực hiện TGPL (Điều 2).

       Khi thực hiện vụ việc TGPL, người thực hiện TGPL phải thật sự tận tâm, trách nhiệm, kịp thời áp dụng các biện pháp, kỹ năng cần thiết phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL (Điều 3).

       Dựa trên nguyên tắc không được gây bất lợi cho người được TGPL, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội, Quy tắc còn quy định người thực hiện TGPL phải giữ bí mật thông tin về vụ việc TGPL, về người được TGPL mà mình biết được trong quá trình thực hiện TGPL, kể cả khi vụ việc, việc TGPL đã kết thúc trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của họ hoặc luật có quy định khác (Điều 4).

       Về ứng xử với người được TGPL, 6 quy tắc mà người thực hiện TGPL phải tuân theo như: (1) Tôn trọng, lịch sự, thân thiện, nhiệt tình, thể hiện phong cách chuyên nghiệp, tạo sự tin tưởng đối với người được TGPL, … (2) Giải thích về quyền và nghĩa vụ của người được TGPL. (3) Không có thái độ hách dịch, có các hành vi coi thường, phân biệt đối xử với người được TGPL. (4) Không sách nhiễu, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà cho người được TGPL; không hứa hẹn trước về kết quả giải quyết vụ việc, việc TGPL. (5) Không được gợi ý, đòi hỏi, đặt điều kiện hoặc nhận bất kỳ lợi ích vật chất, lợi ích khác có liên quan đến vụ việc, việc TGPL từ người được TGPL hoặc người khác. (6) Không xúi giục, kích động người được TGPL thực hiện những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 5).

       Không chỉ có ứng xử với người được TGPL, Quy tắc còn quy định người thực hiện TGPL trong ứng xử với đồng nghiệp, ứng xử với người tập sự, ứng xử với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (Điều 6, Điều 7, Điều 8).

       Điểm chung của hành vi ứng xử này là trên tinh thần chân thành, đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ, phối hợp để hoàn thành nhiệm vụ được giao; người thực hiện TGPL không được tự mình hoặc xúi giục người được TGPL cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ mà mình biết rõ là không đúng sự thật hoặc thực hiện các hành vi lừa dối, hành vi bất hợp pháp để gây khó khăn, cản trở việc giải quyết vụ vệc TGPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Bùi Đức Độ