Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Nhà nước giao đất tái định cư khi thu hồi đất, hộ gia đình người nghèo, người có công được ghi nợ tiền sử dụng đất

(08:11 | 22/06/2020)

       Người có công với cách mạng; hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn cấp xã là địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn được ghi nợ tiền sử dụng đất (TSDĐ) trong trường hợp được giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

       Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ sửa đổi Điều 16 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP về thu TSDĐ quy định hộ gia đình, cá nhân bao gồm: người có công với cách mạng; hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn cấp xã được công nhận là địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được ghi nợ TSDĐ trong trường hợp được giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

       Việc xác định người có công với cách mạng được thực hiện theo quy định của pháp luật về người có công. Xác định hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số hoặc hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn cấp xã được công nhận là địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Ảnh minh họa: Tổng cục Quản lý đất đai họp bàn về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

       Mức TSDĐ ghi nợ đối với hộ gia đình, cá nhân nêu trên được xác định bằng chênh lệch giữa TSDĐ phải nộp khi hộ gia đình, cá nhân được giao đất tái định cư trừ (-) giá trị được bồi thường về đất, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

       Thời hạn hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ TSDĐ là 05 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong 05 năm này, họ được trả nợ dần và không phải nộp tiền chậm nộp.

      Sau thời hạn 05 năm mà hộ gia đình, cá nhân chưa trả hết nợ TSDĐ ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì hộ gia đình, cá nhân phải nộp đủ số TSDĐ còn nợ và tiền chậm nộp tính trên số tiền còn nợ theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế từ thời điểm hết thời hạn 05 năm được ghi nợ tới thời điểm trả nợ.

       Ghi nợ TSDĐ, hộ gia đình, cá nhân phải nộp Đơn đề nghị ghi nợ TSDĐ và giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được ghi nợ TSDĐ cùng với hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật bao gồm: Quyết định giao đất tái định cư và Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường.

       Nhiệm vụ còn lại thuộc về Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan thuế, kho bạc. Sau khi hoàn thành việc thanh toán nợ TSDĐ thì hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc), chứng từ nộp TSDĐ (bản gốc) tại Văn phòng đăng ký đất đai để được xóa nợ TSDĐ ghi trên Giấy chứng nhận. Trường hợp bị mất, thất lạc chứng từ thì hộ gia đình, cá nhân đến kho bạc để được xác nhận số TSDĐ đã nộp.

       Văn phòng có trách nhiệm rà soát, đối chiếu hồ sơ mà hộ gia đình, cá nhân nộp để thực hiện xóa nợ TSDĐ ghi trên Giấy chứng nhận và trả lại Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân ngay trong ngày làm việc.

       Trước khi chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân phải nộp đủ TSDĐ còn nợ, tiền chậm nộp (nếu có). Riêng trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mà chưa trả hết nợ TSDĐ thì người nhận thừa kế có trách nhiệm tiếp tục trả nợ TSDĐ theo quy định.

Bùi Đức Độ