Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Những tranh chấp đất đai nào phải hòa giải trước khi khởi kiện?

(14:53 | 24/12/2019)

Tranh chấp đất đai có rất nhiều loại và phong phú, nhưng chủ yếu là  tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất (QSDĐ), tranh chấp về giao dịch về đất và tranh chấp liên quan đến đất. Trong đó, tranh chấp ai là người có QSDĐ phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất mới đủ điều kiện khởi kiện tại Tòa án.

        Tranh chấp đất đai phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất

        Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai). Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải (Điều 202 Luật Đất đai). Có rất nhiều quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định tại Chương 11 Luật Đất đai, nhưng chỉ có tranh chấp ai là người có QSDĐ thì bắt buộc phải hòa giải  tại UBND cấp xã nơi có đất mới đủ điều kiện khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền (Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). 

         

     ( Ảnh minh họa - nguồn internet)

         Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202 Luật Đất đai có 03 nơi tiến hành: (1) Tự hòa giải, có nghĩa là các bên tranh chấp gặp nhau thương lượng; (2) Thông qua hòa giải ở cơ sở (tổ hòa giải được thành lập ở thôn, làng, ấp, bản nơi có đất tranh chấp hòa giải); (3) UBND cấp xã nơi có đất hòa giải. Như vậy, tự hòa giải và hòa giải ở cơ sở là khuyến khích, nghĩa là có hay không thực hiện cũng được. Còn hòa giải tại UBND cấp xã là bắt buộc nếu các bên tranh chấp đất đai mong muốn giải quyết dứt điểm vụ việc. Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

       Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với những tranh chấp mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp sau: nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm quyền, hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

             

      (Ảnh minh họa- nguồn Internet)

        Tranh chấp liên quan đến đất đai không bắt buộc phải hòa giải

      Đối với tranh chấp khác liên quan đến QSDĐ như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp QSDĐ, góp vốn bằng QSDĐ), tranh chấp về thừa kế QSDĐ, chia tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ,… thì thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án (Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP). Tuy những tranh chấp khác liên quan đến QSDĐ này không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã, nhưng Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp giải quyết thông qua con đường tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại UBND cấp xã, hòa giải tại Tòa án theo pháp luật về tố tụng dân sự.

       Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai là quyền của các bên tranh chấp, đồng thời là nghĩa vụ của UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Nếu UBND xã  không thực hiện nghĩa vụ thì đương sự có quyền khiếu nại lần đầu hành vi hành chính của UBND đến Chủ tịch UBND xã đó theo Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện hành vi hành chính của UBND xã tại Tòa án theo Luật Tố tụng hành chính.

Ths Bùi Đức Độ