Trang thông tin điện tử Trung tâm TGPL Nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ

Xem với cỡ chữAA

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người lao động bị tai nạn lao động (Tiếp theo)

(16:07 | 10/06/2019)

Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động (NSDLĐ) đối với người bị tai nạn lao động (TNLĐ), nhằm khắc phục tình trạng NSDLĐ trốn đóng bảo hiểm (BH) TNLĐ cho người lao động (NLĐ).

        NSDLĐ có trách nhiệm lập hồ sơ cho NLĐ bị TNLĐ được hưởng chế độ về TNLĐ từ Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ,BNN). Quỹ BHTNLĐ,BNN là quỹ thành phần của Quỹ BHXH. Mức đóng BHTNLĐ,BNN được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ và do NSDLĐ đóng. Mức hưởng trợ cấp, mức hỗ trợ cho người bị TNLĐ được tính trên cơ sở mức suy giảm khả năng , mức đóng và thời gian đóng vào Quỹ BH TNLĐ.

       NLĐ tham gia BHTNLĐ được hưởng chế độ TNLĐ khi có đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp: (1) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà BLLĐ và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; (2) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý LĐ; (3) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. Thứ hai, suy giảm khả năng từ 5% trở lên do bị tai nạn theo quy định trên.

        Với quy định nêu trên, pháp luật buộc NSDLĐ phải có trách nhiệm với NLĐ bị TNLĐ, bất luận họ có tham gia BHTNLĐ hay không. Ngoài ra, NSDLĐ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về an toàn LĐ, an toàn ở những nơi đông người nếu gây thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của NLĐ theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

      

        (Ảnh minh họa - nguồn internet)

        Khi NLĐ thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của NSDLĐ ở ngoài phạm vi cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã mà bị tai nạn thì cũng được xem là TNLĐ. Tai nạn có thể là do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn, thì NSDLĐ vẫn phải bồi thường cho NLĐ theo quy định tại khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động.

        Trường hợp NLĐ bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn thì NSDLĐ trợ cấp cho NLĐ theo quy định tại khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Về nguyên tắc, NSDLĐ phải có trách nhiệm đối với người bị TNLĐ như: kịp thời sơ cứu, cấp cứu, tạm ứng tiền, thanh toán chi phí y tế, trả đủ tiền lương cho NLĐ trong thời gian điều trị phục hồi chức năng LĐ…Về trách nhiệm của NSDLĐ khi NLĐ có hay không tham gia BHTNLĐ, Luật quy định NSDLĐ vẫn phải có trách nhiệm:

        Trường hợp thứ nhất: NSDLĐ đã mua BH tai nạn cho người bị TNLĐ tại các đơn vị hoạt động kinh doanh BH, thì người bị TNLĐ được hưởng các khoản chi trả bồi thường, trợ cấp theo hợp đồng đã ký với các đơn vị này. Nếu số tiền BH trả cho người bị TNLĐ thấp hơn mức quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 38 của Luật thì NSDLĐ phải trả phần còn thiếu để tổng số tiền người bị TNLĐ hoặc thân nhân của người bị TNLĐ nhận được ít nhất bằng mức bồi thường, trợ cấp được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 38 của Luật.

        Trường hợp thứ hai: NSDLĐ không đóng BHTNLĐ,BNN cho NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH thì ngoài việc bồi thường, trợ cấp theo Điều 38 của Luật, NSDLĐ phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ BHTNLĐ mà đáng lẽ ra Quỹ BHTNLĐ của BHXH sẽ chi trả cho người bị TNLĐ, bao gồm: Chi trợ cấp một lần, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp phục vụ; Chi hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; Chi dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; Chi hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị TNLĐ khi trở lại làm việc; Chi trợ cấp khi NLĐ chết do TNLĐ. Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên, trường hợp không thống nhất thì thực hiện theo yêu cầu của NLĐ.

        Trường hợp thứ ba: NSDLĐ đã tham gia BH TNLĐ cho NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH, khi NLĐ bị TNLĐ thì được hưởng chế độ theo quy định từ  Quỹ BHTNLĐ,BNN nếu đáp ứng các điều kiện.

        Quy định trên cho ta thấy, trách nhiệm của NSDLĐ chia sẻ gánh nặng đối với người bị TNLĐ, nhằm khắc phục tình trạng NSDLĐ trốn đóng BHTNLĐ cho NLĐ.

Thu Uyên